Bài giảng Ngữ văn 10 (Kết nối tri thức) - Bài 5: Xúy Vân giả dạ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Ngữ văn 10 (Kết nối tri thức) - Bài 5: Xúy Vân giả dạ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Bài giảng Ngữ văn 10 (Kết nối tri thức) - Bài 5: Xúy Vân giả dạ
Xúy Vân giả dại Trích chèo Kim Nham Mục tiêu Học sinh vận dụng tri thức ngữ văn để: o Xác định bố cục của đoạn trích chèo o Nêu được nguyên nhân dẫn đến hành động giả dại của Xúy Vân o Xác định đoạn lời thoại thể hiện rõ nhất “ngôn ngữ điên” của nhân vật o Phân tích được một đoạn lời thoại để thấy được mâu thuẫn giằng xé trong nội tâm nhân vật Xúy Vân o Xác định được các đặc điểm của sân khấu chèo qua đoạn xưng danh của Xúy Vân (cách xưng danh, sự tương tác giữa người xem và người diễn ) Mục tiêu Học sinh xác định được tầm quan trọng văn bản ngôn từ thể hiện tích truyện làm nền cho toàn bộ hoạt động biểu diễn của vở chèo, tầm quan trọng của diễn xuất gồm hát, múa và các hình thức biểu cảm trong vở chèo. Học sinh tìm hiểu thêm ý nghĩa đời sống văn hóa lãng xã của Việt Nam thuở xưa. Khởi động Nhiệm vụ GV cho HS xem một đoạn Video clip trích từ chèo Kim Nham và yêu cầu HS chia sẻ cảm nhận về những đặc sắc qua đoạn trích. 02 Hình thành kiến thức mới Nhiệm vụ Nhóm 1,2 Nhóm 3,4 Thể loại tuồng Thể loại chèo Chèo - Khái niệm: Chèo nguyên là một loại hình kịch hát dân gian, phổ biết ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, thường được diễn ở sân đình trong thời gian có các lễ hội. Về sau, chèo được chuyên nghiệp hóa dần với sự hình thành của các gánh chèo,đoàn chèo -Tích trò: Tích chèo lấy từ truyện cổ tích, truyện Nôm, truyện cười. Lời hát chèo thường là lấy lời ca dao “bẻ” theo làn điệu hát chèo. Nhạc chèo lấy từ các làn điệu dân ca đồng bằng và trung du Bắc Bộ. - Đặc trưng + Đặc điểm tổ chức biểu diễn + Sân khấu biểu diễn + Lối kể chuyện + Nhân vật chèo + Nội dung tư tưởng Tuồng - Khái niệm Là loại hình kịch hát cổ truyền của dân tộc, phát triển mạnh dưới triều Nguyễn ở vùng Nam Trung Bộ. Tuồng có hai bộ phận tương đối khác biệt nhau là tuồng cung đình và tuồng dân gian - Nghệ thuật: Nghệ thuật tuồng mang tính tổng hợp, phối hợp cả văn học, ca nhạc và vũ đạo. Tích tuồng dân gian giàu yếu tố hài, hướng tới châm biếm các thói hư tật xấu hay đả kích một số hạng ngườ nhất định trong xã hội. Một tích tuồng thường có nhiều dị bản, do nó được bổ sung, nắn chỉnh thường xuyên trong quá trình biểu diễn, lưu truyền Nhiệm vụ Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Phân tích đoạn lời Phân tích đoạn lời Bố cục và nguyên thoại thể hiện “ngôn thoại thể hiện rõ nhất nhân Xúy Vân giả dại ngữ điên” của nhân mâu thuẫn nội tâm vật trong lòng Xúy Vân Nhiệm vụ Nhóm 4 Nhóm 5 Nhóm 6 Phân tích cảnh ngộ đời Đặc điểm của sân Đặc điểm của ngôn sống cũng như niềm mong khấu chèo qua đoạn ước của Xúy Vân qua lời ngữ chèo được thể thoại theo điệu “con gà xưng danh của Xúy hiện qua đoạn trích rừng” Vân 1. Bố cục Phần 1 Xuý Vân xuất hiện (từ đầu đến “ai biết là ai?”). Phần 2 Xuý Vân xưng danh (từ “bước chân vào” đến “Ờ”). Phần 3 Xuý Vân giãi bày (đoạn còn lại). 2. Nguyên nhân dẫn đến hành động giả dại của Xúy Vân NGUYÊN NHÂN TRỰC TIẾP NGUYÊN NHÂN SÂU XA Lời xúi dục và hứa hẹn ngon ngọt của Nỗi buồn chán, cô đơn khi phải sống Trần Phương – gã người tình trăng hoa xa chồng và niềm khát khao cảnh và đểu cáng (nguyên nhân này có thể sống êm đềm, hạnh phúc của Xuý được nhận biết một phần qua những chi Vân tiết ngoài văn bản, ở đoạn tóm tắt tác phẩm và một phần qua chính đoạn xưng danh của Xuý Vân trong văn bản). 3. Đoạn lời thoại thể hiện rõ nhất “ngôn ngữ điên” của nhân vật Đoạn lời thoại gắn liền với điệu “hát ngược” ở cuối văn bản (đoạn trích). • Nhiều đối tượng, sự vật được nhắc đến nhưng giữa chúng không có mối liên hệ gì với nhau. • Mọi sự đã được nhân vật nhìn theo một logic ngược, phải đảo lại hoàn toàn thì mới đúng với ghi nhận của tri giác thông thường: “Chuột đậu cành rào, muỗi ấp cánh dơi, Ông Bụt kia bẻ cổ con nai, KẺ ĐIÊN Cái trứng gà mà tha con quạ lên ngồi trên cây” 3. Đoạn lời thoại thể hiện rõ nhất “ngôn ngữ điên” của nhân vật Tác giả dân gian đã khéo vận dụng những bài ca dao nói ngược đầy tính hài hước vốn khá phổ biến trong kho tàng ca dao: “Bước sang tháng Sáu giá chân “Trời mưa cho mối bắt gà Tháng Chạp nằm trần bức đổ mồ hôi Thòng đong cân cấn đuổi cò lao xao Con chuột kéo cày lồi lồi Lươn nằm cho trúm bò vào Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong” Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô” 4. Đoạn lời thoại thể hiện rõ những mâu thuẫn giằng xé trong nội tâm của Xúy Vân Đoạn lời thoại được thể hiện bằng điệu “quá giang”. Xuý Vân buông xuôi, thuận Xuý Vân muốn phản kháng theo sự chi phối của hoàn cảnh “Chả nên gia thất thì về, Ở làm chi mãi cho chúng chê, bạn “Cách con sông nên tôi phải luỵ đò” cười.” Xuý Vân buông thả theo Xuý Vân luôn có nỗi hổ thẹn ngấm chuyện “gió trăng” ngầm, muốn thanh minh, phân bua và cũng biết tự dặn lòng cần giữ tiết 4. Đoạn lời thoại thể hiện rõ những mâu thuẫn giằng xé trong nội tâm của Xúy Vân “Bước chân vào tôi thưa rằng vậy” “Nên đến nỗi điên cuồng rồ dại”. Nàng tự xưng tên họ, nói bản thân có “tài cao vô giá”, “hát hay đã lạ”, được gọi là “cô ả Xúy Vân”. Thế nhưng lại rơi vào nỗi đau khổ khi trót bỏ chồng để đi theo một người đàn ông phụ bạc, “phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương”. Một bên là người con gái đang tuổi xuân thì, với một bên là nỗi đau đớn tủi nhục vì bị ruồng bỏ, sự đối lập này đã cho thấy rõ tâm trạng ân hận của Xúy Vân, chính bi kịch ấy đã đẩy nàng “đến nỗi điên cuồng, rồ dại”. 5. Cảnh ngộ đời sống cũng như niềm mong ước của Xúy Vân qua lời thoại theo điệu “con gà rừng” • Nỗi đắng cay, tấm tức của Xuý Vân khi bị đặt vào một hoàn cảnh không được như ý • Tình trạng “Con gà rừng ăn lẫn với công” • Nàng chỉ ao ước được sống trong cảnh vợ chồng sum họp, hoà thuận: “Chờ cho bông lúa chín vàng,/ Để anh đi gặt, để nàng mang cơm” “Bông bông dắt, bông bông díu, “Láng giềng ai hay, ức bởi xuân huyên” Xa xa lắc, xa xa líu” Biểu đạt nỗi ấm ức, bất bình trước thực Diễn tả cảm giác vui vầy, ríu rít của đôi vợ chồng tại, cố nén xuống bao nhiêu lại dội lên được cùng làm lụng bên nhau, giúp đỡ nhau bấy nhiêu
File đính kèm:
bai_giang_ngu_van_10_ket_noi_tri_thuc_bai_5_xuy_van_gia_da.pptx