Bài giảng Ngữ văn 10 (Kết nối tri thức) - Tiết 46, Văn bản 2: Huyện đường (Trích tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Ngữ văn 10 (Kết nối tri thức) - Tiết 46, Văn bản 2: Huyện đường (Trích tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Bài giảng Ngữ văn 10 (Kết nối tri thức) - Tiết 46, Văn bản 2: Huyện đường (Trích tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến)
BÀI 5: TÍCH TRÒ SÂN KHẤU DÂN GIAN (07 tiết) Tiết 46: VĂN BẢN 2: HUYỆN ĐƯỜNG (Trích tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến) Mục tiêu bài học ❖Học sinh vận dụng tri thức ngữ văn để: - Tóm tắt lại sự việc trong đoạn trích. - Liệt kê những lời thoại cho thấy sự tương đồng về bản chất, thủ đoạn giữa các nhân vật ở huyện đường, từ tri huyện đến đề lại là lính lệ. - Phân tích sự hô ứng nhịp nhàng trong lời thoại giữa hai nhân vật tri huyện và đề lại. - Đánh giá thái độ và cách nhìn nhận của người dân xưa đối với chốn “cửa quan”. - Nhận xét lời tự giới thiệu (qua hình thức nói lối) của nhân vật tri huyện với lời tự giới thiệu thường gặp trong đời sống. ❖Học sinh nêu được các lưu ý về diễn xuất của diễn viên khi dựng lại cảnh Huyện đường. 01 Khởi động Nhiệm vụ Theo em điểm khác biệt cơ bản nhất giữa chèo và tuồng là gì? Nhiệm vụ Chèo – xuất phát từ cách Tuồng – xuất phát từ sinh tích truyện kể hoạt ca vũ của người Việt Câu 1. Em hiểu thế nào là loại hình nghệ thuật chèo? Câu 1. Chèo nguyên là loại hình kịch hát dân gian, phổ biến ở vùng đồng bằng Bắc Bộ , thường được diễn ở sân đình trong thời gian các lễ hội. Về sau, chèo được chuyên nghiệp hóa dần với sự hình thành của các gánh chèo, đoàn chèo. Câu 2. Tuồng là loại hình nghệ thuật như thế nào? Câu 2. Là loại hình kịch hát cổ truyền của dân tộc, phát triển mạnh dười triều Nguyễn, ở vùng Nam Trung Bộ. Tuồng có hai bộ phận tương đối khác biệt nhau là tuồng cung đình và tuỗng dân gian. Câu 3. Đặc điểm của văn bản tuồng? Câu 3. Nghệ thuật tuồng mang tính tổng hợp, phối hợp cả văn học, ca nhạc và vũ đạo. Tích tuồng dan gian giàu yếu tố hài, hướng tới châm biếm các thói hư tật xấu, hay đả kích môt hạng người trong xã hội. Một tích tuồng thường có nhiều dị bản, do nó được bổ sung, nắn chỉnh thường xuyên trong quá trình biểu diễn, lưu truyền 02 Hình thành kiến thức mới Em hãy kể lại nội I. ĐỌC VĂN BẢN dung tác phẩm bằng lời kể của mình? - Tóm tắt vở tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến: Trộm Ốc nhờ thầy bói Nghêu (hay Ngao) gieo quẻ chỉ hướng vào ăn trộm nhà Trùm Sò. Ốc đem của trộm được bán cho Thị Hến, một gái góa trẻ đẹp. Lý trưởng và Trùm Sò đến lục soát bắt được tang vật, liền giải Thị Hến lên trình quan huyện. Khi đến công đường, Thị Hến đã làm cho quan huyện và thầy đề mê mệt vì nhan sắc của mình. Kết quả là Trùm Sò mất tiền, thầy Lý bị đòn, Thị Hến được tha bổng. Kết thúc vở là cảnh cả quan huyện, thầy đề, thầy Lý vì mê mẩn Thị Hến chạm mặt nhau và bị các bà vợ đánh ghen tại nhà Thị Hến. - Đọc văn bản Em hãy giới thiệu lại về II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN tuồng dân gian là thể như thế nào? 1. Tuồng dân gian: giàu yếu tố hài, hướng tới châm biếm thói hư, tật xấu, hay đả kích một số hạng người nhất định 2. Bố cục * Bố cục Tri huyện xưng danh (từ “Quyền trọng” đến Phần 1 “chuyên cần”). Tri huyện và đề lại tính kế bóp nặn người thưa kiện Phần 2 (tiếp đó đến “Lệ đâu?”). Lính lệ bắt đầu thực thi kế hoạch của “quan” (đoạn Phần 3 còn lại). * Tóm tắt các sự việc chính 01 Tri huyện và đề lại đưa ra 03 Tri huyện bước ra đầu tiên, phương án xử tù, phạt đòn và tự xưng tên tuổi, chức vụ và phạt tiền đối với Ốc, Nghêu và kinh nghiệm của mình lí trưởng còn Sò và Hến thì đợi xem xét Đề lại theo hầu phía sau, 02 hỏi thăm và thưa với tri Lính lệ ra gọi cả bên 04 huyện về vụ án của Thị nguyên, bên bị, nhân chứng Hến vào hầu II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN Nhiệm vụ • Hoạt động nhóm (10 phút) - Nhóm 1: Em hãy liệt kê những lời thoại cho thấy sự tương đồng về bản chất, thủ đoạn giữa các nhân vật ở huyện đường từ tri huyện, đề lại, đến các lính lệ. - Nhóm 2: Việc tri huyện và đề lại không cần phải giữ ý với nhau, vì sao vậy? Phân tích sự hô ững nhịp nhàng trong lời thoại giữa hai nhân vật? - Nhóm 3: Theo dõi cảnh tuồng Huyện đường, bạn hiểu như thế nào về thái độ và cách nhìn nhận của người dân xưa đối với chốn “cửa quan”? - Nhóm 4: Lời tự giới thiệu (qua hình thức nói lối) của nhân vật tri huyện đã giúp người xem, người đọc hiểu được điều gì về con người ông ta? Hãy so sánh lời tự giới thiệu đó của một nhân vật cụ thể trong tuồng với những lời tự giới thiệu thường gặp trong đời sống để rút ra nhận xét cần thiết II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN 3. Tìm hiểu đoạn trích 3.1. Hình ảnh những kẻ đại diện cho bộ máy công quyền - Những lời thoại chính của tri huyện: + “Sự lí thường phân ẩu/ Được thua tự đồng tiền”; + “Tôi thì tôi nghĩ cứ để đu đưa như vậy đã. Thằng Sò này giàu lắm, chúng mình có thể “ấy” được”; + “Phải, nắm đứa có tóc ai nắm kẻ trọc đầu”; + “...lưỡi không xương nhiều đường lắt léo, nói thế nào lại chả được”. Tri huyện 3.1. Hình ảnh những kẻ đại diện cho bộ máy công quyền - Những lời thoại của đề lại: + “Vâng, ta cứ bảo là để tra cứu đã. Thưa còn thằng Ốc, thằng Nghêu, lí trưởng, Thị Hến thì liệu xử cho xong, bọn này toàn đầu trọc cả”; + “Bẩm quan xử thật sâu sắc”; + “Vâng ạ, quan xử hay lắm”. Đề lại 3.1. Hình ảnh những kẻ đại diện cho bộ máy công quyền - Lời thoại của lính lệ: “Nhắc lại ông Trùm, anh xã và chị Hến biết rằng hôm nay quan bận lắm, tôi bẩm mãi quan mới chịu xử vụ này đấy”. -> Tất cả những lời thoại nêu trên cho thấy mọi mối bận tâm của tri huyện, đề lại và lính lệ đều chỉ xoay Lính lệ quanh một chữ “tiền”. -> Hệ thống lời thoại rất tinh tế, hàm súc, mỉa mai. * Việc tri huyện và đề lại “cởi mở” với nhau là việc tự nhiên, dễ hiểu vì họ tương đồng về bản chất, lại cấu kết với nhau lâu dài trong việc chiếm đoạt tiền bạc từ người thưa kiện. - Tri huyện vừa phàn nàn về nỗi “Nha lại vắng bẩm thân,/ Dân xã không đấu cáo” thì đề lại xác nhận ngay: “Vâng, hôm nay chả thấy ai kiện cáo gì cả”. Các quan chỉ mong có chuyện kiện cáo để kiếm chác. - Mỗi lời tri huyện nói ra đều được đáp lại bằng tiếng “Vâng” và ngược lại, lời thưa của đề lại có thể nhanh chóng được xác nhận bằng tiếng “Phải”. Tri huyện Đề lại - > Sự tương đồng về bản chất, cấu kết lâu dài trong việc chiếm đoạt tiền bạc từ người thưa kiện. -> Những người cùng bản chất tham lam, xấu xa, chuyên dùng quyền uy để nhũng nhiễu, ăn hối lộ, đút lót của dân chúng khi xử kiện. * Thái độ và cách nhìn nhận của người dân xưa đối với chốn “cửa quan” - Thái độ đánh giá tiêu cực, hàm chứa sự mỉa mai, khinh bỉ, đả kích. - Người dân xưa chỉ thấy “cửa quan” là chốn ô trọc, lúc nhúc nhưng kẻ đục khoét đầy mưu mô, luôn tìm cơ hội vơ vét “cho đầy túi tham” và làm hại những người “thấp cổ bé họng”, kể cả thành phần bất hảo nhưng ở thế yếu hơn (như lí trưởng, Trùm Sò). -> Cách nhìn nhận có tính lịch sử, việc khắc phục phải gắn liền với những đổi thay cơ bản của thể chế. Hiện nay, định kiến dai dẳng này đã dần được xoá bỏ khi xã hội đã phát triển theo chiều hướng văn minh, tiến bộ.
File đính kèm:
bai_giang_ngu_van_10_ket_noi_tri_thuc_tiet_46_van_ban_2_huye.pptx