Giáo án dạy thêm Ngữ văn 10 Sách Cánh diều - Bài 3: Kịch bản chèo và tuồng

docx 80 Trang Hải Bình 12
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo án dạy thêm Ngữ văn 10 Sách Cánh diều - Bài 3: Kịch bản chèo và tuồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Giáo án dạy thêm Ngữ văn 10 Sách Cánh diều - Bài 3: Kịch bản chèo và tuồng

Giáo án dạy thêm Ngữ văn 10 Sách Cánh diều - Bài 3: Kịch bản chèo và tuồng
 GIÁO ÁN DẠY THÊM – CÁNH DIỀU 10 – KÌ I 
 BÀI 3: ÔN TẬP
Ngày soạn ..................
Ngày dạy:................... KỊCH BẢN CHÈO VÀ TUỒNG
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1. Kiến thức
Ôn tập các đơn vị kiến thức của bài học 3 Kịch bản chèo và tuồng:
- Ôn tập một số yếu tố hình thức và nội dung của văn bản chèo hoặc tuồng như: đề tài, tích 
truyện, nhân vật, lời thoại, chủ đề, thông điệp Nhận biết và phân tích được bối cảnh lịch sử - 
văn hoá thể hiện trong kịch bản chèo hoặc tuồng.
- Ôn tập về sửa lỗi dùng từ (tiếp theo): các lỗi lặp từ, dùng từ không đúng quy tắc ngữ pháp, 
không hợp phong cách ngôn ngữ.
- Ôn tập cách viết và thực hành viết bài văn nghị luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói 
quen hay một quan niệm đảm bảo các bước.
 2. Năng lực:
+ Năng lực chung: Tự chủ và tự học; giải quyết vấn đề và sáng tạo
+ Năng lực chuyên môn: Năng lực ngôn ngữ (đọc – viết – nói và nghe); năng lực văn học.
3. Phẩm chất: 
- Trân trọng phẩm chất tốt đẹp, đồng cảm với số phận bi kịch và khát vọng hạnh phúc của người 
phụ nữ; phê phán những thói hư tật xấu của con người.
 Trang 1 GIÁO ÁN DẠY THÊM – CÁNH DIỀU 10 – KÌ I 
- Trân trọng và giữ gìn những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc.
- Có ý thức ôn tập nghiêm túc.
B. PHƯƠNG TIỆN VÀ HỌC LIỆU
 1.Học liệu: 
- Tham khảo SGV, SGK Ngữ văn 10 Cánh diều, tập 1.
- Tài liệu ôn tập bài học.
2. Thiết bị và phương tiện:
 - Sưu tầm tranh ảnh, tư liệu có liên quan đến bài học.
 - Sử dụng ngôn ngữ trong sáng, lành mạnh.
 - Sử dụng máy chiếu/tivi kết nối wifi
 C.PHƯƠNG PHÁP, KĨ THUẬT DẠY HỌC
 - Phương pháp: Thảo luận nhóm,động não, dạy học giải quyết vấn đề, thuyết trình, đàm thoại 
gợi mở, dạy học hợp tác... .
 - Kĩ thuật: Sơ đồ tư duy, phòng tranh, chia nhóm, đặt câu hỏi, khăn trải bàn,...
D.TIẾN TRÌNH DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ
 HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG
 1. Mục tiêu: Tạo hứng thú cho HS, thu hút sự chú ý của HS vào việc thực hiện nhiệm việc 
học tập. 
2. Nội dung hoạt động: HS chia sẻ suy nghĩ
3. Sản phẩm: Những suy nghĩ, chia sẻ của HS.
4. Tổ chức thực hiện:
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ (GV)
Báo cáo sản phẩm dạy học dự án mà GV đã giao sau khi học xong bài 1 buổi sáng:
 DẠY HỌC DỰ ÁN: Sân khấu hoá tác phẩm văn học
GV chia lớp thành 4 nhóm với các nhiệm vụ sau: Đóng hoạt cảnh 4 văn bản trong SGK: 
 + Xuý Vân giả dại
 + Mắc mưu Thị Hến
 + Thị Mầu lên chùa
 + Xử kiện
- Các nhóm lên kịch bản và tập diễn một hoạt cảnh trong văn bản được giao.
 (Nhiệm vụ các nhóm đã được giao trước một tuần sau tiết học buổi sáng)
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ:
 Trang 2 GIÁO ÁN DẠY THÊM – CÁNH DIỀU 10 – KÌ I 
Các nhóm lần lượt sân khấu hoá văn bản chèo/ tuồng đã được phân công. 
GV khích lệ, động viên.
Bước 3: Báo cáo sản phẩm học tập:
Các nhóm nhận xét phần sân khấu hoá của nhóm bạn sau khi nhóm bạn diễn xong.
Bước 4: Đánh giá, nhận xét
- GV nhận xét, khen và biểu dương các nhóm có sản phẩm sân khấu hoá tốt.
 - GV giới thiệu nội dung ôn tập bài 3. Kịch bản chèo và tuồng.
 KĨ NĂNG NỘI DUNG CỤ THỂ
Đọc hiểu văn Đọc hiểu văn bản: 
bản + VB1: Xuý Vân giả dại (trích vở chèo cổ Kim Nham)
 + VB2: Mắc mưu Thị Hến (Trích tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến)
 Thực hành đọc hiểu:
 Văn bản Thị Mầu lên chùa (Trích vở chèo Quan Âm Thị Kính)
 Thực hành Tiếng Việt: Sửa lỗi dùng từ (tiếp theo)
Viết Viết: Bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay 
 một quan niệm.
Nghe Nói và nghe: Thảo luận về một vấn đề có những ý kiến khác nhau.
 HOẠT ĐỘNG ÔN TẬP: NHẮC LẠI KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Mục tiêu: Giúp HS ôn tập, nắm chắc các đơn vị kiến thức của bài học Bài 3. Kịch bản chèo 
và tuồng.
2. Nội dung hoạt động: Vận dụng các phương pháp đàm thoại gợi mở, hoạt động nhóm để ôn 
tập.
3. Sản phẩm: Câu trả lời cá nhân hoặc sản phẩm nhóm.
4. Tổ chức thực hiện hoạt động.
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ:
- GV hướng dẫn HS ôn lại các đơn vị kiến thức cơ bản bằng phương pháp hỏi đáp, đàm thoại 
gợi mở; hoạt động nhóm,
- HS lần lượt trả lời nhanh các câu hỏi củaGV các đơn vị kiến thức cơ bản của bài học 3.
 Trang 3 GIÁO ÁN DẠY THÊM – CÁNH DIỀU 10 – KÌ I 
 Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
- HS tích cực trả lời.
- GV khích lệ, động viên
Bước 3: Báo cáo sản phẩm
- HS lần lượt trả lời các câu hỏi của GV.
- Các HS khác nhận xét, bổ sung.
Bước 4: Đánh giá, nhận xét
 GV nhận xét, chốt kiến thức
 ÔN TẬP ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
 KIẾN THỨC CHUNG KỊCH BẢN CHÈO VÀ TUỒNG
Câu hỏi: 
 - Hãy liệt kê lại các văn bản đọc hiểu của mỗi thể loại chèo cổ và tuồng trong bài học 3.
 - So sánh các đặc điểm của hai thể loại chèo cổ và tuồng.
 - Em hãy nêu những lưu ý khi đọc hiểu một kịch bản chèo hoặc tuồng.
 CHÈO CỔ TUỒNG
 1. Thế nào là nghệ thuật chèo cổ? 1. Thế nào là nghệ thuật tuồng?
 - Chèo cổ (chèo sân đình/chèo truyền thống) - Tuồng là loại kịch hát cổ truyền của dân 
 là loại kịch hát, múa dân gian, kể chuyện, diễn tộc, phát triển mạnh ở triều Nguyễn, ở vùng 
 kịch bằng hình thức sân khấu. Nam Trung Bộ.
 - Đây là bộ môn nghệ thuật tổng hợp của ngôn - Đây là bộ môn nghệ thuật tổng hợp có sự 
 từ, âm nhạc, vũ đạo, tạo hình, phối hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn từ, âm 
 nhạc, vũ đạo, hội hoạ và các trò diễn dân 
 gian.
 2. Đặc trưng của nghệ thuật chèo cổ 2. Đặc trưng của nghệ thuật tuồng
 - Về nội dung tư tưởng: - Về nội dung tư tưởng: 
 + Phản ánh đời sống vật chất, tâm hồn, tình + Tuồng cung đình: Ca ngợi đạo lí vua tôi, 
 cảm của con người trong xã hội phong kiến. lòng yêu nước, khát vọng đánh giặc bảo vệ 
 + Ca ngợi những phẩm chất đạo đức tốt đẹp đất nước, bảo vệ triều đinh.
 của con người.
 Trang 4 GIÁO ÁN DẠY THÊM – CÁNH DIỀU 10 – KÌ I 
 + Phê phán các thói hư tật xấu trong xã hội. + Tuồng hài: Phản ánh hiện thực xã hội gắn 
 + Thể hiện sâu sắc tinh thần nhân văn. với cuộc sống sinh hoạt của nhân dân lao 
 động, hướng tới châm biếm các thói hư tật 
 xấu, đả kích một số hạng người nhất định 
 trong xã hội.
 - Về hình thức: Đây là bộ môn nghệ thuật tổng - Về hình thức: có sự phối hợp nhuần 
 hợp của ngôn từ, âm nhạc, vũ đạo, tạo hình, nhuyễn giữa ngôn từ, âm nhạc, vũ đạo, hội 
 hoạ và các trò diễn dân gian.
 3. Những vở chèo cổ đặc sắc 3. Những vở tuồng đặc sắc
 Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình – Dương Lễ, - Tuồng cung đình: Sơn Hậu, Tam nữ đồ 
 Kim Nham, Trương Viên, Từ Thức, vương, Đào Tam Xuân, 
 - Tuồng hài: Nghêu, Sò, Ốc, Hến; 
 Trương Ngáo; Trương Đồ Nhục; 
 4. Thế nào là kịch bản chèo? 4. Thế nào là kịch bản tuồng?
 - Kịch bản chèo là phần nội dung chính của vở Kịch bản tuồng là một văn bản có cốt truyện, 
 diễn, thường lấy các truyện cổ tích, truyện nhân vật kèm lời thoại và các chỉ dẫn về bối 
 Nôm, truyện cười, được các nghệ nhân hoặc cảnh, trang phục, hoạt động trên sân khấu, 
 nhà sưu tầm nghiên cứu ghi chép lại thành văn 
 bản.
 - Kịch bản chèo có cốt truyện, nhân vật kèm 
 lời thoại và các chỉ dẫn về bối cảnh, trang 
 phục, hoạt động trên sân khấu, 
 5. Cách đọc hiểu văn bản chèo/ tuồng
 - Cốt truyện: văn bản kể lại sự việc gì và diễn biến của sự việc đó như thế nào?
 - Nhân vật: Nhân vật chính là ai? Nhân vật được thể hiện qua các chi tiết ngôn ngữ, hành 
 động, tâm trạng, như thế nao?
 - Xác định được những chỉ dẫn sân khấu, các hình ảnh, từ ngữ, biện pháp tu từ, được sử 
 dụng để tái hiện bối cảnh, hành động, tâm trạng, của nhân vật.
 - Rút ra nội dung tư tưởng của vở chèo/ tuồng: Vở chèo/ tuồng phản ánh nội dung gì? Thể 
 hiện tình cảm nhân đạo gì của tác giả dân gian?
 - Rút ra được thông điệp, bài học cho bản thân.
 Trang 5 GIÁO ÁN DẠY THÊM – CÁNH DIỀU 10 – KÌ I 
 VĂN BẢN ĐỌC HIỂU
* Hoàn thành phiếu học tập 01 theo cặp:
 Tên văn bản Đặc sắc nội dung Đặc sắc nghệ thuật
 Xuý Vân giả dại (Trích chèo Kim Nham)
 Mắc mưu Thị Hến (Trích tuồng Nghêu, 
 Sò, Ốc, Hến)
 Thị Mầu lên chùa (Trích chèo Quan Âm 
 Thị Kính)
*GV hướng dẫn HS chốt các đơn vị kiến thức cơ bản của các văn bản đọc hiểu:
 ÔN TẬP: XUÝ VÂN GIẢ DẠI
 (Trích chèo Kim Nham)
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Vở chèo Kim Nham
a. Vị trí
 Kim Nham là một trong số các vở chèo cổ kinh điển của nghệ thuật sân khấu chèo Việt 
Nam
b. Nội dung chính
- Nêu cao bài học đạo lí khi thể hiện quan hệ gia đình, vợ chồng.
- Đồng thời cũng bộc lộ niềm cảm thông với thân phận người phụ nữ trong xã hội nam quyền 
xưa
c. Tóm tắt
 Vở chèo kể tích Kim Nham – một học trò nghèo từ Nam Định lên Tràng An (Hà Nội) 
trọ học, được huyện Tể gả con gái là Xuý Vân – một cô gái nết na, thuỳ mị. Trong khi chờ đợi 
chồng “dùi mài kinh sử” xa nhà, Xuý Vân bị Trần Phương – một gã nhà giàu nổi tiếng phong 
tình ở Đông Ngàn (Bắc Ninh) tán tỉnh và xui nàng giả dại để thoát khỏi Kim Nham. Xuý Vân 
 Trang 6 GIÁO ÁN DẠY THÊM – CÁNH DIỀU 10 – KÌ I 
giả điên, Kim Nham tận tình chạy chữa không được đành phải trả tự do cho nàng. Trần 
Phương bội hứa, Xuý Vân đau khổ và điên thật. Kim Nham thành đạt, được bổ làm quan. 
Nhận ra vợ cũ điên dại phải đi ăn xin, Kim Nham bỏ nén bạc vào nắm cơm sai người đem 
cho, Xuý Vân nhận ra và xấu hổ nhảy xuống sông tự vẫn.
2. Văn bản “Xuý Vân giả dại”
a. Bối cảnh đoạn trích: Xuý Vân có cuộc sống hôn nhân sắp đặt bởi cha mẹ. Sống bên người 
chồng là Kim Nham chỉ mải mê đèn sách, Xuý Vân không tìm thấy hạnh phúc. Khi chồng xa 
nhà ôn thi, nàng bị Trần Phương dụ dỗ. Nghe lời nhân tình, Xuý Vân giả điên dại để Kim 
Nham buộc phải trả nàng về nhà, để có thể đi theo Trần Phương.
b. Nhân vật và sự kiện
- Nhân vật chính: Xuý Vân
- Sự việc chính: Xuý Vân giả dại để buộc Kim Nham trả tự do để đi theo Trần Phương.
=> “Xuý Vân giả dại” là lớp chèo thuộc loại đỉnh cao không chỉ của riêng vở Kim Nham mà 
còn của chung nền chèo cổ Việt Nam. Xuý Vân giả dại là hiện thân của số phận bi kịch bị 
giằng xé giữa khát vọng tình yêu và hạnh phúc đối với hoàn cảnh sống khắc nghiệt của người 
phụ nữ trong chế độ xưa. Sự bất bình đẳng trong xã hội cũ là một trong những nguyên nhân 
gây nên vô số những tấn thảm kịch số phận của người phụ nữ xưa. Xuý Vân là người phụ nữ 
đáng thương hơn đáng trách
c. Đặc sắc về nội dung và nghệ thuật
*Nghệ thuật:
- Ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh, sinh động với lời nói, lời hát, 
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ, hành động, đặc biệt là qua diễn biến tâm trạng.
- Nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật tinh tế.
 - Sử dụng các chỉ dẫn sân khấu.
*Nội dung:
- Dựng lên chân dung nhân vật Xúy Vân đầy bi kịch, qua đó phản ánh số phận đau khổ của 
người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
- Lên án xã hội phong kiến xưa, đồng thời đòi quyền được hưởng hạnh phúc cho người phụ 
nữ.
d. Liên hệ
 Bài thơ “Xuý Vân” (Lê Đình Cánh)
 Xuý Vân
 Trang 7 GIÁO ÁN DẠY THÊM – CÁNH DIỀU 10 – KÌ I 
 Bao người đã diễn Xuý Vân
 Sinh nghề tử nghiệp đến lần em đây
 Đang lành bỗng hoá dại ngây
 Xoã đầu bứt lá vứt đầy đường thôn
 Nói lời dại. Hát lời khôn
 Đường chua. Chanh ngọt Chất dồn bấy nay
 Khóc là tỉnh. Cười là say
 Đời ơi sấp ngửa bàn tay mấy đời ?
 Đầu chạm đất. Chân đạp trời
 Xui khôn khiến dại một thời gió mưa 
 Em gọi đò. Đò nỏ có thưa
 Em càng nén đợi càng trưa chuyến đò !
 Anh hồi hộp một nỗi lo
 Cầu mong tấn kịch sớm cho hạ màn
 Để em trở lại nhân gian
 Đời ơi sống với muôn vàn tin yêu.
 (Lê Đình Cánh)
II. LUYỆN ĐỀ
DẠNG 1: TRẮC NGHIỆM
Câu 1: Đoạn trích “Xúy Vân giả dại” kể về việc:
A. Xúy Vân giả dại để buộc Kim Nham phải trả nàng về nhà để đi theo Trần Phương.
B. Xúy Vân đau khổ vì bị Trần Phương lừa gạt nàng trở nên điên dại thật
C. Xúy Vân vì không chịu nổi cảnh xa chồng nên nàng giả điên dại
D. Xúy Vân vì thương nhớ chồng trở nên điên dại
Đáp án A
Câu 2: Trong những câu sau, câu nào thể hiện tâm trạng tự thấy mình lỡ làng, dở dang của Xúy 
Vân?
A. Tôi không trăng gió lại gặp người gió trăng
B. Con gà rừng ức bởi xuân huyên
C. Con gà rừng ăn lẫn với công - Đắng cay chẳng có chịu được, ức!
D. Tôi càng chờ đợi càng trưa chuyến đò
Đáp án D
 Trang 8 GIÁO ÁN DẠY THÊM – CÁNH DIỀU 10 – KÌ I 
Câu 3: Trong những câu sau, câu nào thể hiện tâm trạng tự thấy mình lạc lõng, vô nghĩa trong 
gia đình Kim Nham của Xúy Vân?
A. Tôi không trăng gió lại gặp người gió trăng
B. Con gà rừng ức bởi xuân huyên
C. Con gà rừng ăn lẫn với công - Đắng cay chẳng có chịu được, ức!
D. Tôi càng chờ đợi càng trưa chuyến đò
Đáp án C
Câu 4: Trong những câu sau, câu nào thể hiện ước mơ gia đình đầm ấm trong giản dị của Xuý 
Vân?
A. Tôi không trăng gió lại gặp người gió trăng
B. Con gà rừng ức bởi xuân huyên
C. Con gà rừng ăn lẫn với công - Đắng cay chẳng có chịu được, ức!
D. Bao giờ bông lúa chín vàng - Để anh đi gặt, để nàng mang cơm.
Đáp án D
Câu 5: Trong những câu sau, câu nào thể hiện tâm trạng bế tắc, cô đơn của Xúy Vân?
A. Con cá rô nằm vũng chân trâu - Để cho năm, bảy cần câu châu vào.
B. Con gà rừng ức bởi xuân huyên
C. Con gà rừng ăn lẫn với công - Đắng cay chẳng có chịu được, ức!
D. Tôi càng chờ đợi càng trưa chuyến đò
Đáp án A
Câu 6: Điền khuyết: “Tâm trạng của nhân vật Xúy Vân được thể hiện đặc sắc qua hình 
ảnh .khi thì kín đáo, khi thì bóng bẩy. Tất cả làm thành một nội tâm phong phú, đầy tính bi 
kịch.”
A. So sánh B. Ẩn dụ C. Hoán dụ D. Chơi chữ
Đáp án B
Câu 7: Điều gì đã tạo nên mâu thuẫn trong tâm trạng của Xúy Vân trong đoạn trích ?
A. khát vọng giữa tình yêu và đạo đức
B. khát vọng giữa tình yêu và thực tại
C. khát vọng giữa tình yêu và cuộc sống.
D. Cả A và B
 Trang 9 GIÁO ÁN DẠY THÊM – CÁNH DIỀU 10 – KÌ I 
Đáp án D
Câu 8: Những câu hát “bông bông dắt, bông bông díu-xa xa lắc, xa xa líu”là những câu :
A. vô nghĩa, Xúy Vân hát để giả điên
B. thể hiện cuộc sống vợ chồng của nàng
C. đệm thêm cho lời hát có vần, có điệu.
D. chỉ là lời của bài hát, không có ý nghĩa gì.
Đáp án B
Câu 9: Điền khuyết: “Sự đan cài giữa những câu hát .và cũng như hát xuôi và 
hát ngược đều tập trung diễn tả tâm trạng của Xúy Vân, vừa đau khổ, vừa bi kịch.”
A. điên dại, buồn bã B. điên dại, tỉnh táo
C. điên dại, chân thật D. điên dại, giả dối
Đáp án B
Câu 10: Nguyên nhân bi kịch của cuộc đời Xúy Vân là do:
A. Cha mẹ ép duyên 
B. Do Kim Nhan không yêu thương nàng
C. Do bị Trần Phương lừa dối tình cảm
D. Chế độ phong kiến với chế độ hôn nhân “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” cùng lễ giáo phong 
kiến khắt khe kiềm toả khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của con người.
Đáp án D
DẠNG 2: THỰC HÀNH ĐỌC HIỂU
Đề bài: Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:
(Xuý Vân vốn được cha mẹ sắp đặt gả cho Kim Nham, một học trò nghèo. Sau khi cưới, Kim 
Nham lên kinh dùi mài kinh sử; Xuý Vân buồn bã trong cảnh đợi chờ. Xuý Vân bị Trần 
Phương- một gã nhà giàu phong tình tán tỉnh, xui nàng giả điên để thoát khỏi Kim Nham. Xuý 
Vân nghe theo.)
XUÝ VÂN: [ ]
 Chị em ơi!
 Ra đây có phải xưng danh, không nào?
 (Đế(1)) Không xưng danh ai biết là ai?
 Trang 10 GIÁO ÁN DẠY THÊM – CÁNH DIỀU 10 – KÌ I 
 XUÝ VÂN:
 Bước chân vào, tôi thưa rằng vậy, 
 Chẳng giấu gì Xuý Vân là tôi.
 Tuy dại dột, tài cao vô giá, 
 Thiên hạ đồn rằng tôi hát hay đã lạ,
 Ai cũng gọi là cô ả Xuý Vân.
 Phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương, 
 Nên đến nỗi điên cuồng rồ dại.
 (Hát điệu con gà rừng(2)):
 Con gà rừng, con gà rừng ăn lẫn với công,
 Đắng cay chẳng có chịu được, ức!
 Mà để láng giềng ai hay?
 Bông bông dắt, bông bông díu,
 Xa xa lắc, xa xa líu,
 Láng giềng ai hay, ức bởi xuân huyên(3),
 Chờ cho bông lúa chín vàng,
 Để anh đi gặt, để nàng mang cơm.
 Bông bông dắt, bông bông díu,
 Xa xa lắc, xa xa líu,
 Láng giềng ai hay, ức bởi xuân huyên.
(Tiếng trống nhịp nổi lên, Xuý Vân múa điệu bắt nhện, xe tơ, dệt cửi. Múa xong, Xuý Vân hát 
lên rồi cười và hát điệu sa lệch(4) )
 (Trích Xuý Vân giả dại, chèo Kim Nham, Theo Tư liệu tham khảo văn học Việt 
Nam, tập một – Văn học dân gian, BÙI VĂN NGUYÊN – ĐỖ BÌNH TRỊ chọn lọc, chú thích, 
giới thiệu, NXB Giáo dục, 1975) 
Chú giải:
 (1) Đế: nói chêm vào lời của diễn viên trên sân khấu chèo (người nói là khán giả hoặc các 
 diễn viên khác đứng sau sân khấu đối đáp với các diễn viên trên sân khấu).
 (2) Điệu con gà rừng: một điệu hát chèo, thường được dùng khi muốn diễn tả nỗi niềm 
 đắng cay, bực tức của nhân vật.
 Trang 11 GIÁO ÁN DẠY THÊM – CÁNH DIỀU 10 – KÌ I 
 (3) Xuân huyên: cha mẹ (xuân: một loại cây to, sống lâu, được dùng để chỉ người cha; 
 huyên: một loài cây lá nhỏ, dài, thường ví với mẹ).
 (4) Điệu sa lệch: một điệu hát chèo, thường được dùng khi cần thể hiện tâm trạng lưu 
 luyến, nhớ thương hay ai oán.
Câu 1. Chỉ ra các chỉ dẫn sân khấu có trong đoạn trích trên.
Câu 2. Trong lời xưng danh, Xuý Vân kể điều gì về bản thân? Qua đoạn xưng danh, có thể 
nhận ra những đặc điểm gì của sân khấu chèo?
Câu 3. Những câu hát sau cho thấy ước mơ gì của Xuý Vân?
 “Chờ cho bông lúa chín vàng,
 Để anh đi gặt, để nàng mang cơm.”
Câu 4. Thực tế cuộc sống của Xuý Vân trong gia đình chồng như thế nào? Những câu hát nào 
diễn tả điều đó?
Câu 5. Qua đoạn trích, em thử lí giải nguyên nhân vì sao Xuý Vân lại “Phụ Kim Nham, say 
đắm Trần Phương”? 
Câu 6. Theo em, Xuý Vân đáng thương hay đáng trách? Hãy câu trả lời trong đoạn văn ngắn 
(khoảng 3 – 5 câu).
Câu 7. Nếu nhân vật Xuý Vân sống ở thời hiện đại, theo em, nàng có thể chọn cách giải thoát 
cho bi kịch của bản thân như thế nào?
 Gợi ý làm bài 
Câu 1: Các chỉ dẫn sân khấu:
 - Lời nói đế: Không xưng danh ai biết là ai?
 - Âm nhạc và hành động của nhân vật trên sân khấu: Tiếng trống nhịp nổi lên, Xuý Vân 
 múa điệu bắt nhện, xe tơ, dệt cửi. Múa xong, Xuý Vân hát lên rồi cười và hát điệu sa 
 lệch 
Câu 2:
 -Trong lời xưng danh, Xuý Vân kể về bản thân:
+ là một người có tài cao (hát hay), mọi người gọi là cô ả Xuý Vân.
+ nhưng lại dại dột phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương, nên nghe theo lời xui của hắn giả 
điên cuồng rồ dại.
- Qua đoạn xưng danh, có thể nhận ra những đặc điểm của sân khấu chèo:
+ Nhân vật xưng danh: đầy đủ tên họ, tính cách.
+ Sự tương tác giữa người xem và người diễn.
 Trang 12 GIÁO ÁN DẠY THÊM – CÁNH DIỀU 10 – KÌ I 
Câu 3: Những câu hát sau cho thấy ước mơ của Xuý Vân mong có một gia đình đầm ấm, vợ 
chồng cùng nhau lao động, sẻ chia ngọt bùi.
Câu 4: 
 Thực tế cuộc sống của Xuý Vân trong gia đình chồng được thể hiện qua những câu hát:
 “Con gà rừng, con gà rừng ăn lẫn với công,
 Đắng cay chẳng có chịu được, ức!
 Mà để láng giềng ai hay?
 Bông bông dắt, bông bông díu,
 Xa xa lắc, xa xa líu”
+ “Gà rừng ăn lẫn với công” : Hình ảnh ẩn dụ cho sự không hoà hợp giữa hai vợ chồng, Xuý 
Vân thấy mình lạc lõng, vô nghĩa trong gia đình Kim Nham.
+ Lời hát lặp lại "xa xa lắc, xa xa líu": Hạnh phúc sum vầy xa lắc xa lơ, mãi mãi chỉ là khát 
khao.
 Xuý Vân có sự mâu thuẫn giữa khát vọng, mơ ước và thực tế.
Câu 5. Qua đoạn trích, ta có thể lí giải nguyên nhân dẫn đến hành động của Xuý Vân: “Phụ 
Kim Nham, say đắm Trần Phương” là do nàng không tìm được hạnh phúc trong cuộc hôn nhân 
với Kim Nham, nên nàng đi theo Trần Phương – người mà nàng coi như tri kỉ, tri âm, người 
cảm thông với mình. Đây là hành động vượt qua rào cản của lễ giáo phong kiến để chạy theo 
tình yêu tự do.
Câu 6. HS viết đoạn văn theo yêu cầu đề bài
 - Hình thức: Đảm bảo dung lượng số câu không được gạch đầu dòng, không mắc lỗi chính tả, 
ngữ pháp. Hành văn trong sáng, cảm xúc chân thành;
- Nội dung: HS bày tỏ suy nghĩ về nhân vật Xuý Vân.
+ Xuý Vân đáng trách vì đã phụ lại chồng, đi theo nhân tình, đi ngược lại với đạo đức, lễ giáo 
phong kiến.
+ Xuý Vân đáng thương vì nàng có cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Ban đầu khi mới 
cưới, nàng cũng có ước mơ giản dị, chính đáng. Nhưng ước mơ đó lại không cùng lí tưởng với 
chồng nàng kà Kim Nham và gia đình chàng. Xuý Vân rời vào tình cảnh lạc lõng, cô đơn trong 
gia đình chồng. Nên nàng mới chạy theo Trần Phương – người tưởng như là tri âm tri kỉ với 
nàng. Nhưng đáng thương thay, nàng lại bị Trần Phương lừa gạt.
Câu 7. HS bộc lộ suy nghĩ. HS cần chú ý đến sự khác biệt giữa thời đại, chuẩn mực xã hội và 
hoàn cảnh sống của nhân vật giữa hai thời đại phong kiến – hiện đại để lí giải quan điểm.
 Trang 13 GIÁO ÁN DẠY THÊM – CÁNH DIỀU 10 – KÌ I 
 Ví dụ: Nếu nhân vật Xúy Vân trong vở chèo Kim Nham sống ở thời điểm hiện đại có thể giải 
thoát bi kịch của bản thân theo cách tích cực hơn, chứ không phải chọn con đường là giả điên 
để theo người tình:
+ Trong cuộc hôn nhân với Kim Nham, khi không tìm thấy tiếng nói chung, khi sống không 
hạnh phúc thì Xuý Vân có thể nói chuyện thẳng thắn về mong muốn của mình với chồng để 
mong chồng hiểu được tâm trạng, mong muốn của bản thân nàng.
+ Nếu 2 người không thể tìm thấy tiếng nói chung thì có thể chia tay trong hoà bình để mỗi 
người đi tìm hạnh phúc riêng chứ nàng không cần phải giả điên để chồng ruồng rẫy. 
+ Hơn nữa, trước khi muốn kết thúc mối quan hệ vợ chồng với Kim Nham để chạy theo tình 
yêu của Trần Phương thì nàng phải tìm hiểu kĩ con người kia là như thế nào chứ không vì cảm 
xúc nhất thời mà buông bỏ mái ấm đang có. 
 DẠNG 3: NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
Câu hỏi: Phân tích nỗi niềm của nhân vật Xuý Vân được thể hiện qua lớp chèo “Xuý Vân giả 
dại” (trích chèo Kim Nham)
 Gợi ý
*Bảng kiểm đánh giá bài văn:
 Viết bài văn phân tích nỗi niềm của nhân vật Xuý Vân được thể hiện qua lớp Đạt/chưa 
 chèo “Xuý Vân giả dại” đạt
 a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
 Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được 
 vấn đề.
 b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
 Phân tích nỗi niềm của nhân vật Xuý Vân được thể hiện qua lớp chèo “Xuý Vân giả 
 dại”.
 c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
 Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập 
 luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu sau:
 * Giới thiệu tác phẩm chèo, đoạn trích Xuý Vân giả dại, vấn đề nghị luận.
 * Phân tích nỗi niềm của Xuý Vân trong đoạn trích:
- Phân tích làm rõ cho nỗi niềm của Xuý Vân:
 Trang 14 GIÁO ÁN DẠY THÊM – CÁNH DIỀU 10 – KÌ I 
 + Qua tiếng gọi chờ đò
 + Qua điệu hát con gà rừng
 + Qua lời hát sắp, hát ngược
 - Nhận xét chung:
 + Đoạn trích dựng lên chân dung nhân vật Xúy Vân đầy bi kịch, qua đó phản ánh 
 số phận đau khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
 + Qua đó, lên án xã hội phong kiến xưa, đồng thời đòi quyền được hưởng hạnh 
 phúc cho người phụ nữ.
 * Nhận xét về đặc sắc nghệ thuật và biểu hiện làm rõ:
 + Ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh, sinh động với lời nói, lời hát, 
 + Nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật tinh tế: qua hành động, ngôn ngữ, 
 + Sử dụng các chỉ dẫn sân khấu.
 d. Chính tả, ngữ pháp
 Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
 e. Sáng tạo
 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
* Học sinh chỉnh sửa bài viết:
 PHIẾU CHỈNH SỬA BÀI VIẾT
Nhiệm vụ: Hãy đọc bài viết của mình và hoàn chỉnh bài viết bằng cách trả lời các câu 
hỏi sau:
1. Bài viết đảm bảo hình thức bài văn chưa?
... ...........................................................................................................................
2. Nội dung đã đảm bảo các ý chưa? Nếu chưa cần bổ sung những ý nào?
..............................................................................................................................
3. Bài viết có sai chính tả không? Nếu có em sửa chữa như thế nào?
.............................................................................................................................
4. Bài viết đã đánh giá được nỗi niềm của nhân vật Xuý Vân qua trích đoạn Xuý Vân giả dại 
theo cảm nhận của riêng em chưa? Nếu chưa hãy bổ sung.
Dàn ý tham khảo:
 Trang 15 GIÁO ÁN DẠY THÊM – CÁNH DIỀU 10 – KÌ I 
I. Mở bài
- Giới thiệu chung về chèo cổ: còn gọi là chèo truyền thống hay chèo sân đình, là một thể loại 
sân khấu kịch hát dân gian đặc sắc, sản phẩm nghệ thuật của nông thôn các tỉnh đồng bằng 
Bắc Bộ. Nghệ thuật chèo là nghệ thuật tổng hợp, phối hợp nhuần nhuyễn giửa kịch bản, lời 
hát, động tác và âm nhạc.
- Đoạn Xúy Vân giả dại trích trong vở chèo Kim Nham là một trong những trích đoạn hay nhất 
của chèo cổ Việt Nam.
II. Thân bài 
1. Tóm tắt nội dung vở chèo Kim Nham
- Kim Nham là người học trò nghèo ở Nam Định được viên huyện Tể gả con gái cho. Vợ 
chàng - Xúy Vân – đảm dang, khéo léo, chỉ ước mơ cùng chồng lao động, gần gũi bên nhau. 
Song Kim Nham lại lên Tràng An “dùi mai kinh sử”, Xúy Vân buồn bã trong cảnh chờ đợi. 
Nàng bị một gả nhà giàu là Trần Phương tán tỉnh. Theo mưu kế của tình nhân, Xúy Vân giả 
điên để bỏ chồng. Sau đó, nàng lại bị hắn phụ tình. Xúy Vân đau khổ, từ giả điên thành điên 
thật. Kim Nham thi đỗ, làm quan. Chàng gặp vợ cũ đi ăn xin, sai người bỏ nén bạc vào nắm 
cơm, đem cho Xuý Vân. Nàng nhận được, hiểu ra, xấu hổ và đau đớn bèn nhảy xuống sông tự 
vẫn. 
- Đoạn trích thể hiện cảnh Xúy Vân giả dại, buộc Kim Nham phải trả mình về nhà để đi theo 
Trần Phương.
2. NỖI NIỀM CỦA XUÝ VÂN TRONG ĐOẠN TRÍCH “XUÝ VÂN GIẢ DẠI”
(1). Tâm trạng tự thấy mình đã lỡ làng, dở dang được bộc lộ qua lời hát: Tôi càng chờ càng 
đợi, càng trưa chuyến đò. Chả nên gia thất thì về. Ở làm chi nữa chúng chê bạn cười. Hình 
ảnh cô gái càng chờ đợi, con đò càng không tới đã cụ thể hóa sự bẽ bàng, lỡ dở của cô.
Tâm trạng tự thấy mình lạc lõng, vô nghĩa trong gia đình Kim Nham được thể hiện qua hình 
ảnh Gà rừng ăn lẫn với công, đắng cay chẳng chịu được, ức...
(2). Tâm trạng thất vọng giữa ước mơ gia đình hạnh phúc đầm ấm, anh đi gặt, nàng mang 
cơm, với thực tại chồng mải mê đèn sách, thi cử, bỏ mặc nàng một mình cô đơn với gánh 
nặng gia đình. Cho nên, lời hát: Bông bông dắt, bông bông diu - Xa xa lắc, xa xa líu được lặp 
đi lặp lại đã phản ánh bằng hình ảnh cụ thể tâm trạng đó. Nhân duyên, khiến họ phải gắn bó, 
dắt díu, ràng buộc với nhau, nhưng những ao ước của họ khác xa nhau, không thể sẻ chia.
 Sau mỗi lời bộc bạch là điệp ngữ: Láng giềng ai hay, ức bởi xuân huyên cho thấy nỗi cô đơn 
và khát khao hạnh phúc của cô không thể chia sẻ với láng giềng, cũng không được sự đồng 
cảm của cha mẹ.
(3). Tâm trạng ấm ức, bế tắc, cô đơn của Xúy Vân được thể hiện qua hình ảnh Con cá rô nằm 
vũng chân trâu – Để cho năm bảy cần câu châu vào... Hình ảnh gợi bóng gió về không gian 
cạn, hẹp và đầy bất trắc. Đó cũng là tình cảnh của Xúy Vân.
(4). Những câu hát ngược cuối đoạn trích vừa thể hiện đầu óc điên dại của Xúy Vân vừa gợi 
hình ảnh ngược đời, trớ trêu, điên đảo, đúng sai, thực giả lẫn lộn mà cô đã chứng kiến, đồng 
thời diễn tả sự bế tắc, mất phương hướng của cô.
 Trang 16 GIÁO ÁN DẠY THÊM – CÁNH DIỀU 10 – KÌ I 
=>Tóm lại, tâm trạng Xúy Vân được thể hiện đặc sắc qua những hình ảnh ẩn dụ có khi kín 
đáo, khi bóng bẩy, khi được giấu giữa những câu hát điên dại tưởng như vô nghĩa, khi lại là 
những câu nói ngược... Tất cả tạo nên nội tâm phong phú, rối bời, đầy tính bi kịch.
 III. Kết bài
- Khát vọng hạnh phúc của Xúy Vân là chính đáng nhưng không thực hiện được trong chế độ 
phong kiến gia trưởng.
- Hiểu và cảm thông nội tâm đặc sắc của nhân vật Xúy Vân, ta càng hiểu nội dung, ý nghĩa 
sâu sắc của đoạn trích.
- Qua đó, hiểu được chèo cổ là món ăn tinh thần đáng quý của nhân dân đồng bằng Bắc Bộ, 
có thái dộ trân trọng, gìn giữ đối với nghệ thuật truyền thống độc đáo của dân tộc.
 BUỔI 2:
 ÔN TẬP VĂN BẢN 2: MẮC MƯU THỊ HẾN
 (Trích tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến)
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
 1. Vở tuồng “Nghêu, Sò, Ốc, Hến”
a. Thể loại: Tuồng hài (tuồng đồ)
b. Vị trí
 Là tác phẩm tiêu biểu trong di sản tuồng truyền thống và là vở tuồng hài thuộc loại xuất sắc 
nhất.
c. Nội dung chính 
Tác phẩm châm biếm sâu sắc nhiều thói tật trong xã hội và lật tẩy bộ mặt xấu xa của một số 
kẻ thuộc bộ máy cai trị ở địa phương trong xã hội xưa.
2. Văn bản “Mắc mưu Thị Hến”
a. Bối cảnh đoạn trích: Sau khi giúp đỡ Thị Hến thoát tội tàng trữ của gian ở công đường, cả 
thầy đề và quan huyện đều cùng muốn hẹn hò với Thị. Lũ háo sắc ấy (còn có thêm Nghêu - 
một thầy tu phá giới, sa đoạ) đã rơi vào bẫy của Thị Hến khi cùng giáp mặt nhau tại nhà chị 
ta. Cả 3 phải một phen bẽ mặt.
b. Nhân vật: Thị Hến – Nghêu – Đề Hầu – Huyện Trìa.
c. Tóm tắt đoạn trích: 
 Ba người Nghêu, Đề Hầu, Huyện Trìa đều muốn tán tỉnh Thị Hến. Trời tối Thị Hến hẹn 
Nghêu đến đến nhà, nhưng Nghêu không biết được Thị Hến mời luôn cả hai người kia đến. 
Nghêu đến đầu tiên, khi đang ngồi ngồi tán tán tỉnh Thị Hến thì Đề Hầu gõ cửa vào khiến 
 Trang 17 GIÁO ÁN DẠY THÊM – CÁNH DIỀU 10 – KÌ I 
Nghêu phải chui vào gầm phản trốn. Khi Đề Hầu vào nhà chưa được ấm chỗ thì Huyện Trìa 
đến, Đề Hầu vội tìm chỗ trốn. Khi đủ cả ba người trong nhà, Thị Hến liền bày mưu để cho 
Nghêu từ gầm giường bò ra, Đề Hầu ngồi trong thúng chui ra. Tất cả cùng xuất đầu lộ diện và 
bị một phen bẽ mặt.
d. Đặc sắc nội dung và nghệ thuật
*Nghệ thuật: 
- Tạo tình huống gây cười
- Xây dựng những chân dung nhân vật qua ngôn ngữ và hành động sinh động.
- Sử dụng một số thủ pháp gây cười nhằm tạo tiếng cười châm biếm, phê phán.
* Ý nghĩa của đoạn trích:
- Tạo ra tiếng cười nhằm châm biếm, phê phán những thói hư tật xấu, những dục vọng tầm 
thường của bọn quan lại của bộ máy cai trị phong kiến. Qua đó, đoạn trích phần nào cho thấy 
diện mạo của bức tranh làng quê phong kiến buổi suy tàn. 
- Ca ngợi trí tuệ của nhân dân lao động. 
II. LUYỆN TẬP
DẠNG 1: THỰC HÀNH ĐỌC HIỂU
Đề số 01: Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
(Sau khi giúp đỡ Thị Hến thoát tội tàng trữ của gian ở công đường, cả Đề Hầu và Huyện Trìa 
đều cùng muốn hẹn hò với Thị. Nghêu – một thầy tu phá giới, sa đoạ, đến tán tỉnh Thị Hến. Thị 
Hến hẹn Nghêu tối đến nhà, nhưng lại cho mời cả Huyện Trìa và Đề Hầu cùng đến. Ở nhà Thị 
Hến, khi Nghêu đang tán tỉnh thì Đề Hầu gõ cửa. Nghêu chui xuống gầm phản, Đề Hầu vào.)
 ĐỀ HẦU: [ ]
 Đèn không khêu không tỏ
 Chuông không đánh không kêu
 (Ta nói thiệt)
 Đó không thương đây cũng quyết liều
 (Chừ) Duyên đã khẳn(1) nường tua(2) giữ dạ.
THỊ HẾN: Ân ái việc còn thong thả
 Rượu trà xin hãy vui chơi!
 Chẳng mấy khi đặng một hiệp một nơi,
 Bây giờ đã gặp nhau hai mặt.
 Trang 18 GIÁO ÁN DẠY THÊM – CÁNH DIỀU 10 – KÌ I 
 (Chừ có việc này)
 Tôi xin hỏi thiệt, thầy khá tỏ bày!
 Thầy hằng xem luật lệ xưa nay, 
 Tu (mà) phá giới, tội chi khinh trọng(3) (thưa thầy?)
ĐỀ HẦU: Lỗ tai nghe quá chướng,
 Trong luật lệ rất to,
 Hễ phá giới tức hành trảm quyết(4)!
 (Huyện Trìa tới)
HUYỆN TRÌA: (Nói ngoài cửa)
 Viên ngoại diêu văn tế thuyết,
 Môn tiền hữu ngã quan nhơn(5)
 Mở cửa ra! Mau tiếp đại tân!
 Ớ mụ! Kíp kíp ra mời quan Huyện (nào)!
ĐỀ HẦU: (Chui chao!)
 Văn ngôn sắc biến! Sắc biến!
 Thính thuyết hồn kinh! Hồn kinh(6)!
 Nếu mà ông Huyện tri tình,
 Chắc hẳn thầy Đề mang khổ!
(Đề Hầu trốn, ông Huyện vào)
HUYỆN TRÌA: [ ]
 Ta nghỉ ngơi kẻo mệt
 Nói dài lắm cũng buồn
 Khuyên khuyên xin chớ làm tuồng
 Bớt bớt xin đừng nói bợm!
THỊ HẾN: Sợ gan ruột đàn ông nhiều lớp,
 Việc nợ duyên dễ thiếp mấy nơi?
 Rượu trà hãy xin mời, 
 Ái ân rồi có đó.
 (Bây giờ tôi xin nhờ quan)
 Trang 19 GIÁO ÁN DẠY THÊM – CÁNH DIỀU 10 – KÌ I 
 Vốn tôi chưa rõ, 
 Xin hỏi một lời:
 Người từng xem luật lệ nơi nơi,
 (Là) Có một việc ở đời lạ lạ. 
 Rầy có chú thầy tu rất chạ(7),
 Hay tới nhà mà ve vãn bà goá,
 Đã xuất gia, phá giới làm vơ,
 Thời luật pháp xử chi cho rõ?
HUYỆN TRÌA: (Uẩy!)
 Nói làm chi việc rối,
 Ai có tiếc làm chi
 Phàm tu hành mà đã xuất gia, 
 Có phá giới đánh đòn phát lạc(8)!
NGHÊU: (Từ gầm giường bò ra)
 Tâm khoái lạc! Tâm khoái lạc!
 Thiện xử phân! Thiện xử phân(9)!
(Bẩm quan lớn, lời quan dạy rất minh, chớ thầy Đề ngồi trong thúng mơ nói mới ức chớ! Bẩm 
quan lớn!). [ ]
 Chơn vi phụ mẫu chi dân(10)!
 (Chứ thầy Đề)
 Chỉ thị dâm ô chi loại(11)!
 Như thầy tu phá giới
 Thời bất quá đánh đòn.
 Còn thầy Lại phạm gian,
 Thật ắt là tội chết!
ĐỀ HẦU: (Lồm cồm bò ra)
 Đầu đuôi tại mụ Hến
 Mưu mẹo bởi lão thầy tu
 Rày quan Huyện trớ trêu
 Trang 20

File đính kèm:

  • docxgiao_an_day_them_ngu_van_10_sach_canh_dieu_bai_3_kich_ban_ch.docx