Bài giảng Lịch sử 10 - Bài: Khám phá nền văn minh Ai Cập cổ đại - Trường THPT Lương Thế Vinh
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Lịch sử 10 - Bài: Khám phá nền văn minh Ai Cập cổ đại - Trường THPT Lương Thế Vinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Bài giảng Lịch sử 10 - Bài: Khám phá nền văn minh Ai Cập cổ đại - Trường THPT Lương Thế Vinh
TRƯỜNG THPT LƯƠNG THẾ VINH - HẢI PHÒNG K H Á M P H Á N Ề N V Ă N M I N H A I C Ậ P C Ổ Đ Ạ I GIỚI THIỆU Văn minh Ai Cập là một trong những nền văn minh phát triển rực rỡ nhất của thế giới cổ đại mà tầm ảnh hưởng xuyên không gian, thời gian. Cho đến nay, những thành tựu ấy vẫn làm cho chúng ta thán phục, ngạc nhiên trước sức sáng tạo kỳ diệu của Ai Cập thời cổ đại. Nền văn minh Ai Cập cổ đại đã để lại cho nhân loại nhiều thành tựu tuyệt vời và có nhiều đóng góp đối với sự phát triển của nền văn minh thế giới. Để tìm hiểu chi tiết về nền văn minh của Ai Cập cổ đại, mời các bạn cùng tham khảo tài liệu sách KHÁM PHÁ NỀN VĂN MINH AI CẬP CỔ ĐẠI. Các tác giả hi vọng cuốn sách sẽ cung cấp cho bạn đọc nhiều kiến thức bổ ích và lí thú giúp cho quá trình tìm hiểu và khám phá của chúng ta. mục lục 01 Địa lý và dân cư 02 Các thời kỳ lịch sử 03 Thành tựu tiêu biểu 04 Ý nghĩa VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ DÂN CƯ Ai Cập nằm ở Đông Bắc châu Phi, dọc vùng hạ lưu của lưu vực sông Nile, sông Nile bắt nguồn từ vùng xích đạo của châu Phi, dài 6700 km, nhưng phần chảy qua Ai Cập chỉ dài 700 km. M i ề n đ ấ t đ a i d o s ố n g N i l e b ồ i đ ắ p c h ỉ r ộ n g 1 5 - 2 5 k m , p h í a B ắ c c ó n ơ i r ộ n g 5 0 k m v ì ở d â y s ô n g N i l e c h i a t h à n h n h i ề u n h á n h t r ư ớ c k h i đ ổ r a b i ể n . Hằng năm từ tháng 6- 11, nước sông Nile dâng cao đem theo một lượng phù sa phong phú bồi đắp cho vùng đồng bằng hai bên bờ ngày càng thêm màu mỡ. Do đó, nền kinh tế nơi đây phát triển sớm tạo điều kiện cho Ai Cập có thể bước vào xã hội văn minh sớm nhất thế giới. Ai Cập chịu ảnh hưởng của khí hậu Ai Cập, ngoại trừ khu vực phía Bắc chịu ảnh của Địa Trung Hải, vì vậy ở Ai Cập số ngày mưa rất ít, quang năm trời nắng, bầu trời luôn trong xanh, độ ẩm không khí thấp. T u y n h i ê n , c ũ n g n h ờ đ i ề u n à y m à n g ư ờ i A i C ậ p l ạ i t h u ậ n l ợ i t r o n g v i ệ c q u a n s á t t h i ê n v ă n v à g i ữ g ì n k h á l â u n h ữ n g d i s ả n c ủ a n ề n v ă n m ì n h A i C ậ p , c ụ t h ể l à b ả o q u ả n đ ư ợ c l o ạ i g i ấ y P a p y r u s . C â y c ó i l à n g u y ê n l i ệ u l à m g i ấ y p a p y r u s c ủ a n g ư ờ i A i C ậ p c ổ T ạ o h ì n h s ố n g đ ộ n g c ủ a n h ữ n g c â y p a p y r u s đ ư ợ c l ư u l ạ i t r ê n b ứ c t ư ờ n g l ớ n c ủ a n g ô i đ ề n n ổ i t i ế n g A b u S i m b e l . H ì n h ả n h c â y p a p y r u s đ ư ợ c c h ạ m k h ắ c t i n h x ả o t r ê n c ộ t đ á k h ổ n g l ồ ở đ ề n L u x o r . Ai Cậ p chia làm hai miề n rõ rệ t theo dòng chảy của sông Nil từ Nam lên Bắ c: miề n Thượng Ai Cậ p (miề n Nam) là mộ t dải lưu Lãnh thổ vực hẹp, miề n Hạ Ai Cậ p (miề n Bắ c) là mộ t đồ ng Ai Cập bằ ng hình tam giác. Ngay từ thời rấ t sớm, trên lãnh thổ Ai Cậ p đã có con người, họ chính là những thổ dân châu Phi. Châu Phi là mộ t trong những cái nôi, địa bàn hình thành con người và trong quá trình săn bắ t, hái lượm ở vùng phía Đông châu Phi, các thổ dân này đi đế n thung lũng sông Nil bởi nơi đây có nhiề u điề u kiệ n thuậ n lợi: nguồ n nước phong phú, đấ t phù sa phì nhiêu nên họ đã chọn nơi này để định cư. Dân cư Ai Cập cổ đại Về sau có một dân tộc khác, vốn cư trú ở vùng Palestine theo ngã Đông Bắc của Ai Cập tràn vào chiếm lĩnh vùng thung lũng sông Nil và chinh phục các thổ dân ở đây và trải qua một quá trình chung sống lâu dài, tạo nên một hỗn hợp chủng tộc và đó chính là tổ tiên của người Ai Cập hiện nay, đồng thời chính họ là chủ nhận của nền văn minh sông Nil. Như vậy, tóm lại, cư dân chủ yếu của Ai Cập ngày nay là người Ả Rập nhưng thời cổ đại là người Libi, người da đen và người Xêmit từ châu Á tới. C Á C T H Ờ I K Ỳ L Ị C H S Ử Lịch sử Ai Cập cổ đại được chia thành 5 thời kì là Tảo vương quốc, cổ vương quốc, Trung vương quốc, Tân vương quốc và Hậu kì vương quốc gồm tất cả 31 vương triều. Thời kì Tảo vương quốc (khoảng 3200-3000 TCN) Vào khoảng nửa sau thiên niên kỉ IV TCN, do sự phát triển của lực lượng sản Ngay từ thời kì này, xuất và sự phân hóa giàu nghèo, các người cổ Ai Cập đã công xã nông thôn đã liên hiệp lại thành biết sử dụng công những nhà nước nhỏ đầu tiên gọi là cụ bằng đồng đỏ, châu. Dần dần, những châu ấy hợp lại biết dùng cày và thành hai miền Thượng và Hạ Ai Cập. dùng súc vật để kéo cày. Người Tiếp đó, qua đấu tranh, hai miền Thượng và đứng đầu nhà nước Hạ Ai Cập mới thống nhất thành nước Ai Cập. Từ khi nhà nước Ai Cập thống nhất ra là một ông vua đời cho đến khoảng năm 3000 TCN, ở Ai chuyên chế gọi là Cập đã trải qua hai vương triều là vương Pharaông. triều I và vương triều II, được gọi chung là thời kì Tảo vương quốc. Thời kì Cổ vương quốc (khoảng 3000-2200 TCN) Thời kì Cổ vương quốc bao gồm 8 vương triều, từ vương triều III đến vương triều X. Đầu thời Cổ vương quốc, chế độ tập quyền trung ương được củng cố, kinh tế cũng phát triển hơn trước. Trên cơ sở ấy, các Pharaông đã huy động sức người, sức của để xây dựng cho mình những Kim tự tháp rất đồ sộ. Nhưng từ vương triều V, thế lực của chính quyền trung ương bắt đầu suy giảm, đến vương triều VII, nền thống nhất không duy trì được nữa. Thời kì Trung vương quốc (khoảng 2200-1570 TCN) Thời kì Trung vương quốc bao gồm 7 vương triều, từ vương triều XI đến vương triều XVII, trong đó, thời kì thống trị của vương triều XI và vương triều XII là thời kì ổn định nhất. Nhưng đến năm 1750 TCN, ở Ai Cập đã nổ ra một cuộc khởi nghĩa của dân nghèo. Từ đó Ai Cập bị suy yếu. Đến năm 1710 TCN, miền Bắc Ai Cập bị người Híchxốt ở Palextin chinh phục và thống trị 140 năm. Trong thời gian ấy, miền Nam Ai Cập cũng phải thần phục vương triều ngoại tộc này. T h ờ i k ì T â n v ư ơ n g q u ố c ( 1 5 7 0 - k h o ả n g 1 1 0 0 T C N ) Năm 1570 TCN, người Híchxốt bị đánh đuổi khỏi Ai Cập, đất nước lại được thống nhất, thời Tân vương quốc bắt đầu. Thời kì này gồm 3 vương triều, từ vương triều XVIII đến vương triều XX. Các vua đầu vương triều XVIII tích cực thi hành chính sách xâm lược bôn ngoài và đã chinh phục được Xyri, Phênixi, Palextin ở châu A và Libi, Nubi ở châu Phi. Cuối vương triều XVIII, do thế lực của tầng lớp tăng lữ thờ thần Mặt trời Amôn phát triển quá mạnh, lấn át cả uy quyền của vua. Vì vậy, để làm suy yếu thế lực của tầng lớp tăng lữ, vua Ichnatôn đã tiến hành một cuộc cải cách tôn giáo, nhưng chính sách cải cách này chỉ được thi hành trong một thời gian ngắn. Về công cụ sản xuất, từ thời Trung vương quốc, đồng thau đã ra đời nhưng chất lượng còn kém và còn ít. Đến thời Tân vương quốc, đồng thau mới được sử dụng rộng rãi, đồng thời sắt đã bắt đầu xuất hiện nhưng còn rất hiếm. Sau vương triều XVIII, Ai Cập ngày càng suy yếu. Á o g i á p v à c h i ế n x a c ủ a G i á p c ủ a c u n g t h ủ c h i ế n x a A i c ậ p c h i ế n s ĩ m a r i y a n n u t h ờ i k ì đ ầ u c ủ a T â n v ư ơ n g q u ố c A i C ậ p t ừ t h ế k ỉ X - I T C N Từ thế kỉ X TCN, Ai Cập hết bị chia cắt lại bị ngoại tộc thống trị. Đặc biệt, từ năm 525 TCN, Ai Cập bị nhập vào đế quốc Ba Tư ở Tây Á. Alexander không chỉ là một vị thống soái kiệt xuất trong lịch sử nhân loại, mà còn là một chính trị gia lỗi lạc. Trong cuộc đời cầm quân vẻ vang Không chỉ chinh phục những của mình, Alexander đã thể hiện tài quốc gia rộng lớn, Alexander năng quân sự thiên bẩm bằng những còn có khả năng chinh phục chiến thắng hiển hách trên chặng lòng người bằng tài năng và đường chinh phạt tất cả các vùng nhãn quan chính trị hơn người. đất mà ông biết lúc bấy giờ. Một trong những minh chứng tiêu biểu nhất là nghệ thuật chinh phục lòng dân và được công nhận là Pharaoh của đất nước Ai Cập huyền bí. Năm 332 TCN, Ai Cập bị Alếchxăngđrơ ở Makêđônia chinh phục. Sau khi đế quốc Makêđônia tan rã, Ai Cập thuộc quyền thống trị của một vương triều Hi Lạp gọi là vương triều Ptôlêmê (305—30 TCN). Đến năm 30 TCN, Ai Cập thành một tỉnh của đế quốc La Mã. A l e x a n d e r đ ã t h ự c h i ệ n m ộ t c h u y ế n h à n h h ư ơ n g đ ể t ế l ễ v ị t h ầ n A m m o n m à n g à i r ấ t t ô n s ù n g . THÀNH TỰU VĂN MINH AI CẬP TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO G i ố n g n h ư c ư d â n c á c q u ố c g i a c ổ đ ạ i k h á c , n g ư ờ i A i C ậ p t r o n g t h ờ i k ì n à y t h ờ r ấ t n h i ề u t h ầ n : c á c t h ầ n t ự n h i ê n , c á c t h ầ n đ ộ n g v ậ t , l i n h h ồ n n g ư ờ i c h ế t , t h ầ n đ á , t h ầ n l ử a , t h ầ n c â y . . . C á c t h ầ n t ự n h i ê n c h ủ y ế u g ồ m c ó T h i ê n t h ầ n , Đ ị a t h ầ n v à T h ủ y t h ầ n . T h i ê n t h ầ n , g ọ i l à t h ầ n N u t , l à m ộ t n ữ t h ầ n t h ư ờ n g đ ư ợ c t h ể h i ệ n t h à n h h ì n h t ư ợ n g m ộ t n g ư ờ i đ à n b à h o ặ c m ộ t c o n b ò c á i . Đ ị a t h ầ n l à m ộ t n a m t h ầ n g ọ i l à t h ầ n G h é p . T h ủ y t h ầ n , t ứ c l à t h ầ n s ô n g N i n , g ọ i l à t h ầ n O d i r i x . Cùng vó i̛ sự hình thành nhà nuơ ́ c̛ tập quyề n trung uơ n̛ g, thầ n Mặt Trò i̛ trở thành vị thầ n quan trọng nhất. Noi̛ thò ̛ thầ n Mặt Trò i̛ đầ u tiên là thành Iunu, nguơ ̀ i̛ Hi Lạp gọi là Hêliôpôlix. Thầ n Mặt Trò i̛ ở đây gọi là thầ n Ra. Cùng vó i̛ sự hình thành nhà nuơ ́ c̛ tập quyề n trung uơ n̛ g, thầ n Mặt Trò i̛ trở thành vị thầ n quan trọng nhất. Noi̛ thò ̛ thầ n Mặt Trò i̛ đầ u tiên là thành Iunu, nguơ ̀ i̛ Hi Lạp gọi là Hêliôpôlix. Thầ n Mặt Trò i̛ ở đây gọi là thầ n Ra. Ngoài thầ n Mặt Trò i̛ , nguơ ̀ i̛ Ai Cập còn Nguơ ̀ i̛ Ai Cập cổ đại cũng rất coi trọng thò ̛ thầ n Mặt Trăng Tố t (Thoth). Thầ n việc thò ̛ nguơ ̀ i̛ chết. Họ quan niệm Tố t còn đuợ̛ c quan niệm là thầ n văn rằ ng trong mỗi con nguơ ̀ i̛ đểu có một tự, kế toán và trí tuệ. Thầ n Mặt Trăng hình bóng gọi là "can" (linh hồ n) hoàn đuợ̛ c thể hiện duơ ́ i̛ hình tuợ̛ ng một toàn giố ng nguơ ̀ i̛ đó nhu ̛ cái bóng ở con nguơ ̀ i̛ đầ u chim hồ ng hạc hoặc trong guơ n̛ g. Khi con nguơ ̀ i̛ mó i̛ ra đò i̛ đầ u khỉ. thì linh hồ n chui vào trong thân thể, khi con nguơ ̀ i̛ chết thì linh hồ n rò i̛ khỏi thổ xác. Tù ̛ đó, linh hồ n tồ n tại độc lập nhun̛ g con nguơ ̀ i̛ không thể nhìn thây, chỉ có thể thấy đuợ̛ c trong giấc mộng. Linh hồ n tồ n tại đến khi thi thể nguơ ̀ i̛ chết hủy nát thì mó i̛ chết hẳn. Nhun̛ g nếu thi thể đuợ̛ c bảo tồ n thì linh hồ n một lúc nào đó sẽ nhập vào thể xác và con nguơ ̀ i̛ sẽ seing lại. Chính vì quan niệm nhu ̛ vậy nên nguơ ̀ i̛ Ai Cập mó i̛ có tục uơ ́ p̛ xác. Người Ai Cập cổ đại còn thờ nhiều loại động vật từ dã thú, gia súc, chim đến côn trùng như: chó sói, cá sấu, rắn, sơn dương, cừu, mèo, hồng hạc, đặc biệt là bò mộng Apix. Do nhiều loại động vật được thần thánh hóa như vậy, nên người Ai Cập cổ đại thường rất quý các gia súc. Ví dụ, nếu mèo tự nhiên mà chết thì tất cả những người trong nhà đều phải cạo lông mày; nếu chó chết thì mọi người trong nhà phải cạo tóc. Các con vật chết cũng phải được ướp xác như người Ngoài các con vật có thực, người Ai Cập còn thờ các con vật tưởng tượng như phượng hoàng, nhân sư. Theo truyền thuyết, phượng hoàng sinh ra từ trong lửa, đậu trên một ngọn cây ở Hêliôpôlix (gần Memphix). Tiếng hót của nó hay đến nỗi mặt trời cũng phải lắng nghe. Sáng sớm chính là hiện thân của phượng hoàng được đem dâng cho thần Ra. Đến chiều, khi mặt trời- lặn, phượng hoàng chết, sáng hôm sau lại sống lại, lại hót véo von để chào đón bình minh. Còn nhân sư (Sphynx) là con vật đầu người mình thú. Người Ai Cập tin rằng loài vật này sống trong sa mạc gần đó. Con nhân sư được quan niệm là kẻ bảo vệ đắc lực chống lại mọi thế lực thù địch và hung hăng. Vì vậy, tượng nhân sư thường được đặt trước đền miếu. CHỮ VIẾT TỪ KHI XÃ HỘI CÓ GIAI CÂ P BĂ T ĐÂ U HÌNH THÀNH, CHỮ VIÊ T Ở AI CẬP ĐÃ RA ĐỜI. CHỮ VIÊ T CỦA AI CẬP CỔ ĐẠI LÚC ĐÂ U LÀ CHỮ TƯỢNG HÌNH, TỨC LÀ MUÔ N VIÊ T CHỮ ĐỂ BIỂU THỊ MỘT VẬT GÌ THÌ VE HÌNH THÙ CỦA VẬT Â Y. VÌ VẬY, NHÌN VÀO CÁC BẢN VIÊ T CHỮ AI CẬP CỔ ĐẠI, TA THÂ Y CÁC HÌNH VE NHƯ NGƯỜI, CÁC LOẠI ĐỘNG VẬT (CHIM, GIA SÚC, DÃ THÚ, CÔN TRÙNG), CÂY CÔ I, MẶT TRỜI, MẶT TRĂNG, SAO, NƯỚC, NÚI NON V.V... ĐÔ I VỚI CÁC KHÁI NIỆM TRỪU TƯỢNG HOẶC PHỨC TẠP THÌ PHẢI DÙNG PHƯƠNG PHÁP MƯỢN Ý. VÍ DỤ, MUÔ N VIÊ T CHỮ KHÁT THÌ VE HÌNH CON BÒ ĐỨNG BÊN CẠNH CHỮ NƯỚC, CHỮ CHÍNH NGHĨA THÌ VE LÔNG ĐÀ ĐIỂU, VÌ LÔNG ĐÀ ĐIỂU HÂ U NHƯ DÀI BĂ NG NHAU. TUY NHIÊN, HAI PHƯƠNG PHÁP Â Y CHƯA ĐỦ ĐỂ GHI MỌI KHÁI NIỆM, VÌ VẬY DÂ N DÂ N XUÂ T HIỆN NHỮNG HÌNH VE BIỂU THỊ ÂM TIÊ T. NHỮNG HÌNH VE BIỂU THỊ ÂM TIÊ T NÀY VÔ N LÀ NHỮNG CHỮ BIỂU THỊ MỘT TỪ NHƯNG ĐÔ NG ÂM VỚI ÂM TIÊ T MÀ NGƯỜI TA MUÔ N SỬ DỤNG. VÍ DỤ, CON MĂ T TIÊ NG AI CẬP LÀ AR, DO DÓ HÌNH CON MĂ T CÒN BIỂU THỊ ÂM TIÊ T AR. Văn học Ai Cập Cổ đại có một kho tàng văn học khá phong phú, bao gồ m tục ngữ, thơ ca trữ tình, các câu chuyện mang tính chấ t đạo lí giáo huấ n, trào phúng, truyện thầ n thoại... Trong số đó, Truyện hai anh em, Nói Thật và Nói Láo, Nói chuyện với linh hồ n của mình, Lời kể của Ipuxe, Lời răn dạy của Đuaúp, Số ng sót sau vụ đắ m thuyền v.v... là những truyện tương đố i tiêu biểu. Truyện Nói Thật và Nói Láo kế chuyện hai anh em, người anh tên là Nói Láo, người em tên là Nói Thật. Nói Láo huênh hoang rằ ng, có một vật có thể chứa được cả núi rừng. Nói Thật không chứng minh được như thế là nói láo nên đã bị móc mắ t. Nói Thật trở thành đầ y tớ của người anh và bị đày đọa rấ t cực khổ. Nhưng có một cô gái xinh đẹp đã yêu và lấ y anh chàng mù lòa, sinh được một đứa con trai. Lớn lên, đứa con quyế t báo thù cho cha. Một hôm, nó dắ t một con bò của mình đế n nhà của Nói Láo..... Truyện Số ng sót sau vụ đắ m thuyề n nói về một người vâng lệnh vua cùng 120 thủy thủ đi thuyề n đế n một vùng mỏ. Giữa biển, thuyề n gặp bão, tấ t cả thủy thủ đề u chế t, chỉ một mình người ấ y nhờ có một khúc gỗ nên được số ng sót. Anh ta bị giạt vào một hòn đảo. Chúa đảo là một con rắ n lớn, đã dùng mồ m cắ p anh về chỗ ở của rắ n. Rắ n bảo anh cứ yên tâm ở lại đó, sau 4 tháng sẽ có thuyề n từ kinh thành đế n đón anh về . Sự việc xảy ra đúng như lời nói của rắ n. Anh hế t lời cảm ơn rắ n. Khi rời đảo, Rắ n tặng anh nhiề u tặng phẩm, chúc anh lên đường mạnh khỏe và nói với anh rằ ng sau khi anh rời hòn đảo thì đảo sẽ biế n thành làn sóng. Hai tháng sau, thuyề n về đế n kinh thành, anh yế t kiế n vua, dâng lễ vật từ đảo đem về , được vua phong cho làm thị vệ.
File đính kèm:
bai_giang_lich_su_10_bai_kham_pha_nen_van_minh_ai_cap_co_dai.pdf